Tổng hợp thông tin về Lạc Việt, Kinh-Keo
Việc sử ta ghi dòng dõi dân Việt là dòng Thần Nông thường được giới học giả “chính thống” cả ta, Tây, Tàu coi như là luận điệu dân tộc chủ nghĩa, nhận xằng … Tuy nhiên đoạn thông tin ngắn gọn đó lại không chứa các yếu tố hoang đường kiểu đẻ trăm trứng, sơn tinh, thủy quái v.v. gì cả nên không thể sổ toẹt đi ngay được !
Ở đây xin tổng kết vài thông tin trong chính sử sách Tàu:
– “Giao chỉ thời Chu là Lạc Việt, thời Tần gọi là Tây Âu” (Dư Địa Chí- Cố Dã Vương ).
– Sách đầu tiên đề cập tên Việt Lạc là Lã Thị Xuân Thu, TK3 TCN : “Hòa chi mỹ giả: Dương Phác chi khương, Chiêu Dao chi quế, Việt Lạc chi khuẩn, chiên vị chi hải, Đái Hạ chi diêm, Tể Yết chi lộ, kỳ sắc như ngọc, Trường Trạch chi noãn”. Lại xét câu có là trích lời Y Doãn nói với vua Thành thang nên tên Việt Lạc phải có ít ra từ đời Thành Thang (thế kỷ 16 trước CN).
– Thủy kinh chú (水經註) của Lịch Đạo Nguyên (酈道元 – thời Bắc Ngụy), dẫn lại tư liệu từ sách Giao Châu ngoại vực ký (交州外域記) : “…Giao Chỉ tích vị hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu Lạc điền, kỳ điền tòng triều thủy thượng hạ, dân khẩn thực kỳ điền, nhân danh vi Lạc dân….”, như vậy chữ Lạc vốn xuất phát từ tên ruộng, nói rộng ra là tên đất.
– Theo Hậu Hán Thư, truyện Tang Cung, đầu đời Đông Hán (ngang thời Hai Bà Trưng) người Lạc Việt vẫn còn sinh sống ở Trung Lư, Hồ Bắc. Chỉ cách Tùy Châu , quê hương Thần Nông 80 km đường chim bay (cự ly bề rộng 1 huyện của TQ).
( xem => … )
– Theo Mạnh Tử, vua Thuấn là người Đông Di (không phải Hoa Hạ !), khả năng Viêm Đế dòng Thần Nông cũng thế ( xem => … ).
– Lăng Viêm Đế ở huyện Viêm Lăng phía tây Hành Dương tỉnh Hồ Nam. Còn lăng Thuấn đế ở núi Cửu nghi phía Nam Vĩnh Châu tức Linh Lăng cũng thuộc tỉnh Hồ Nam, đều là vùng đất Lạc Việt Cổ. (Linh Lăng là nơi Mã Viện đày 300 cừ súy người Lạc Việt sau khi khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại) .

– Người Thái gọi người Kinh là Keo tức Giao, tức Giao Chỉ, như thế là không nhận mình là Giao Chỉ. Cũng không nhận là dòng dõi Thần Nông. Hình như không có tư liệu thành văn nào của người Thái ghi mình là tộc Lạc Việt cả, việc gán Giao Chỉ-Lạc Việt là Thái Kadai chỉ do giới học giả Tàu và một số FB người Việt đưa ra. Khả năng tên Kinh và Keo có quan hệ : xin xem bài => …
* Chúng ta không nên phủ nhận việc Giao Chỉ-Lạc Việt có thể có quan hệ cả huyết thống lẫn ngôn ngữ và văn hóa với nhóm Thái-Kadai, nhưng không thể đánh đồng Lạc Việt cổ với Thái-Kadai mà phớt lờ việc nhóm Việt-Mường mới là nhóm tiến ra khai thác vùng Đồng Bằng Bắc bộ (quận Giao Chỉ) từ khi vùng này còn là vụng biển (truyền thuyết 50 con theo cha xuống biển).
* (Còn tiếp, tác giả đang tập hợp dần các tư liệu …)
Thử lọc bỏ các yếu tố hoang đường trong truyền thuyết về Sơn tinh-Thủy tinh
Ngày 09/12/2024.
===
Nhưng nói thế vẫn chỉ là lý thuyết xuông mà thôi … Nên bây giờ tôi xin lấy một ví dụ cụ thể là truyện Sơn Tinh Thủy Tinh tức Truyện thần núi Tản viên Trong Lĩnh Nam Chích quái, ngay Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho đây là chuyện quái đản.
Tôi sử dụng bản dịch của Đinh Gia Khánh-Nguyễn Ngọc San, copy trích lại từ trang https://thuviensach.vn/pdf/viewer.php?id=2ebd5c
Vương lấy lưới sắt ngăn ngang sông huyện Từ Liêm. Thủy Tinh bèn mở một dải sông Tiểu Hoàng Giang từ Lý Nhân ra Hát Giang, vào sông Đà Giang để đánh ập sau lưng núi Tản Viên. Lại mở ngách sông Tiểu Tích Giang hướng về trước núi Tản Viên, đi qua Cam Giá, Xa Lâu, Cổ Hào, Ma Sá ở khoảng ven sông đánh sụt thành cái vũng lớn để
Xin các nhà địa chất học và khảo cổ học cho ý kiến là có thể dùng phương pháp khoa học nào để xác định dải sông Tiểu Hoàng Giang và ngách sông Tiểu Tích Giang có dấu vết đào nhân tạo không ? hoặc xác định là dòng chảy hai sông đó đã hình thành do một sự kiện lụt lội ở thời đại nào đó ?
Theo tôi nghĩ phe “Thủy Tinh” không cần đào mới toàn bộ 2 sông đó, mà do thời xưa đồng bằng Bắc bộ còn thấp, phần lớn diện tích là ao hồ, chỉ cần thuận theo thế đất, đào phá một số đoạn gò hay vồng đất cao nối các vùng hồ đầm là có thể tạo một dòng chảy mới dẫn nước lụt được … không cần phải phép thuật thần tiên quỷ quái gì cả …
* Ghi chú thêm :
1. Khảo trên bản đồ Google thì Hoàng Giang là con sông chạy ngang thành Cổ Loa, gần đó cũng có địa danh Lý Nhân. Việc nhóm Thủy tinh mở (đào) nhánh sông tiểu Hoàng Giang ra sông Hát có thể chính là ra sông Hồng đoạn phía trên vùng Từ Liêm, lý do là vì dòng chảy chính của sông Hồng thời xưa là sông Hát, nên đoạn sông Hồng phía trên Từ liêm (nơi sông Hát nối vào sông Hồng) cho đến tận Bạch Hạc khi đó được tính là sông Hát (!), từ ngã ba Bạch Hạc có thể rẽ vào sông Đà để đánh vào phía sau núi Tản Viên như truyền thuyết viết được.
2. Kết hợp các thần tích về thần núi Tản Viên (tức Sơn Tinh, có thần tích ghi tên là Nguyễn Tuấn), không nói gì chuyện đánh nhau với Thủy Tinh mà chỉ ghi việc giúp vua Hùng đánh lại nhóm An Dương Vương Thục Phán, thì có khả năng nhóm Thủy Tinh chính là nhóm An Dương Vương, khi đó định cư ở vùng phía bắc sông Hồng, trung tâm là Cổ Loa, đối diện với Hà Nội ở bờ Nam sông Hồng.
3. Vùng Cổ Loa hình như không có dấu tích gì của nhóm Tày-Nùng cả, việc gán cho An Dương Vương là dân gốc Tày-Nùng cần xem xét lại, vì người Thục vốn ở vùng Thành Đô, là một nhóm phi Hán-Tạng, nhưng cũng không phải Tày-Nùng, dữ liệu di truyền ADN của dân “Hán” ở Thành Đô hiện nay có tỉ lệ haplogroup M88 khá cao, mà M88 là nhóm ADN đặc thù của người Kinh.

Thần Nông, Nghiêu, Thuấn đều là dân man di ?
Tóm lược :
Bài này có một phát hiện quan trọng: vua Thuấn là người Đông Di, tức là dân “man di” chứ không phải người Hoa Hạ.
Thông tin này có nhiều hệ quả ghê gớm. Như sách “Sử ký” nói vua Thuấn nam vỗ yên Giao Chỉ, các tài liệu Trung Quốc hay nhắc đi nhắc lại điều đó, hàm ý rằng Giao Chỉ (tức Việt Nam thời cổ) thời xưa đã là đất thuộc TQ, chịu sự “giáo hóa” của người Hoa Hạ … nhưng giờ nếu không hiểu lộn ngược lại thì cũng phải xem xét lại cách suy diễn đó.
Thêm nữa khi khảo thêm các cứ liệu ngôn ngữ và di truyền ADN thì có khả năng từ Thần Nông tới Nghiêu, Thuấn cũng đều là dân “man di”, cũng không phải người Hoa Hạ … gay go thật 🙂
Xem bài trên FB ở link :
https://www.facebook.com/share/p/DHrE1Q1nKitAa6c4/?mibextid=oFDknk
Do bài trên FB dễ bị trôi đi nên xin copy về blog cá nhân này (có chỉnh sửa):
Hôm nay tình cờ đọc lại sách Mạnh Tử thấy có câu này, nếu phân tích kỹ sẽ thấy nhiều điều để nói, (Theo Khâm Định Tứ khố toàn thư, Mạnh Tử Quyển 3-4, trang 91) :
“孟子曰:舜生於諸馮遷於負夏卒於鳴條東夷之人也 – Mạnh Tử viết: Thuấn sinh ư Chư Bằng thiên ư Phụ Hạ tốt ư Minh Điều, Đông Di chi nhân dã “. (Mạnh Tử nói rằng vua Thuấn sinh ở Chư Bằng, thiên di tới Phụ Hạ chết ở Minh Điều, là người Đông Di vậy).
– Chư Phùng 諸馮 đọc theo cổ âm là Chư Bằng là vùng đất ở Sơn Đông, Trung Quốc : https://baike.baidu.hk/item/%E8%AB%B8%E9%A6%AE/9292151
– Mà cụ Bình Nguyên Lộc căn cứ các dữ liệu nghiên cứu chỉ số xương sọ thì viết rằng nhóm Đông Di ở vùng Hoa Đông, cụ thể là Sơn Đông cổ xưa vốn là người Việt thuần chủng.
– Tôi từng đưa lên nhóm này thông tin ở Sử ký sách ẩn của Tư Mã Trinh nói Viêm Đế dòng Thần Nông Thị ban đầu định đô ở đất Trần, sau dời về Khúc Phụ (kinh đô nước Lỗ thời Chu), như vậy truyền thuyết của người Việt nhận là dòng dõi Thần Nông có cơ sở, vì Khúc Phụ ở Sơn Đông vốn là vùng đất Đông Di, nhóm Thần Nông phải khác với nhóm Hoa Hạ gốc Hoàng Hà.
– Hãy để ý các tên Thần Nông, Đế Đồi, Đế Thừa, Đế Minh … (Dòng Thần Nông), cho đến Đế Nghiêu, Đế Thuấn đều theo cú pháp thuận như tiếng Việt (chữ Đế đặt trước) khác với tên Hoàng Đế của nhóm Hoa Hạ (chữ Đế đặt sau), như vậy việc các “đế” này là người Đông Di khác với Hoa Hạ là có cơ sở về mặt ngôn ngữ .
– Lại xét, Sử Ký của Tư Mã Thiên nguyên gốc không có Tam Hoàng, mà chỉ bắt đầu từ Hoàng Đế mà thôi, việc đưa các “đế” của các nhóm Bách Việt hay Đông Di vào chính sử TQ có lẽ bắt đầu diễn ra từ thời Hán, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất TQ và các nhóm Bách Việt ở Hoa Nam đã Hán hóa, hòa nhập vào xã hội TQ, còn vùng Hoa Đông (nhóm Đông Di) thì đã Hán hóa sớm hơn có lẽ từ giữa đời Chu ?
—
Xin xem ảnh, mấy chữ “Đông Di chi nhân dã” có gạch đỏ.

Ảnh chụp trang sách của Bình Nguyên Lộc “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”, trong đó dòng nhận định “Hoa Đông (gốc Đông Di tức Việt thuần chủng)” :

Bổ sung:
—
1- Theo khảo chú ở trang đã dẫn trên về thôn Chư Bằng ở huyện Chư Thành, Sơn Đông https://baike.baidu.hk/item/%E8%AB%B8%E9%A6%AE/9292151 có viết : “清代學者焦循在《孟子正義》認為也在此地,雲:“今青州府有諸城縣,大海環其東北,説者以為即《春秋》書‘城諸’者”. Tạm dịch: Tiêu Tuần, một học giả thời nhà Thanh, trong “Mạnh Tử Chính Nghĩa” cho rằng: “Phủ Thanh Châu ngày nay có huyện Chư Thành, biển lớn bao quanh ở phía đông bắc. Người nói cho rằng đó là “Thành Chư” được viết trong kinh “Xuân Thu”.
Chịu khó phân tích thông tin này thì phát hiện ra cấu trúc tên gọi Thành Chư thời kinh Xuân Thu (Tây Chu) đảo ngược so với tên Chư Thành hiện nay, nhưng lại đúng cú pháp tiếng Việt (!!!)
Đây là thông tin khiến tôi đưa ra ý kiến cho rằng nhóm Đông Di đã Hán hóa về ngôn ngữ từ giữa đời Chu (ngoài ra tôi còn một số dữ liệu khác, từ từ sẽ đưa lên
)
2- Khảo thêm về chữ Chư trong tên Chư Bằng, quê sinh của Đế Thuấn.



